Halloween Costume ideas 2015
tháng 4 2013


Một ngày đẹp trời, bạn bật máy tính lên nhưng màn hình chỉ toàn một màu đen. Bạn không biết phải làm gì? 
Khi máy tính không thể khởi động thì phần cứng là thứ bạn cần quan tâm nhất, nhưng để có thể tìm ra đúng bệnh cho chiếc máy tính thì bạn nên làm theo trình tự dưới đây để tránh chẩn đoán sai nguồn cơn. Những bước dưới đây có thể áp dụng khi máy tính không thể khởi động được, có tiếng kêu lạ hoặc có khởi động nhưng không thể vào được Windows, còn nếu đã vào được Windows thì vấn đề của bạn nằm ở phần mềm).
1.Kiểm tra nguồn điện

Không riêng gì máy tính mà tất cả các thiết bị điện khi hỏng hóc thì việc đầu tiên bạn nên làm là kiểm tra lại nguồn điện, từ nguồn điện trong nhà, ổ nối cho tới dây nguồn của máy. Cách đơn giản nhất là dùng bút thử điện để kiểm tra đã có điện vào hay chưa. Tiếp đến, mở thùng máy ra và cắm lại các dây dẫn từ nguồn vào mainboard và các thiết bị khác, sau đó thử khởi động, nếu không thấy đèn sáng hoặc quạt nguồn không quay thì có thể bộ nguồn đã hỏng và cần được thay thế. Thường thì các bộ nguồn đều có cầu chì nên nếu may mắn bạn chỉ cần thay cầu chì của nguồn là được, tất nhiên để tự thay cầu chì cho nguồn bạn cũng cần có chút kinh nghiệm sử dụng mỏ hàn vì cầu chì được hàn trực tiếp lên bo mạch nguồn. 
Dùng mỏ hàn nhiệt thay cầu chì bị đứt bằng 1 cái khác hoặc dùng 1 sợi dây đồng mảnh nối tắt 2 đầu (cách này hơi nguy hiểm).2. Kiểm tra màn hình và card đồ họa

Sau khi chắc chắn là nguồn vẫn hoạt động bình thường mà khi khởi động màn hình vẫn không hiển thị gì thì bạn cần kiểm tra màn hình và Card màn hình. 

Trước tiên vẫn là dây nguồn màn hình (khi có điện đèn led nhỏ ở góc màn hình sẽ sáng) rồi tới cáp nối VGA/DVI, nếu được hãy mượn một màn hình khác thử nghiệm để xem có phải màn hình bị hỏng không. Nếu vẫn không mang lại kết quả thì cần xem xét tới card đồ họa. Bạn có thể thử một số cách như tháo card ra rồi cắm lại, chuyển sang chip đồ họa tích hợp (nếu mainboard có hỗ trợ) hoặc thay thế bằng một card đồ họa khác. 

3. Lỗi RAM
Sau khi kiểm tra hết vấn đề về nguồn và màn hình mà vẫn không tìm ra nguyên nhân gây lỗi, thì thiết bị kế tiếp bạn cần kiểm tra chính là bộ nhớ của máy. 

ất cả những gì bạn có thể làm với RAM chỉ là tháo ra lau chùi và lắp lại.

RAM cũng là một nguyên nhân phổ biến khiến máy tính gặp trục trặc. Có thể chân cắm RAM bị lỏng (máy sẽ kếu bíp ngắn và lặp lại liên tục hoặc không có tiếng bíp khi khởi động), bạn chỉ việc tháo ra và cắm lại (thử cắm vào khe khác nếu vẫn không khắc phục được), đảm bảo lau sạch chân cắm RAM.Gắn lại thanh RAM một cách cẩn thận bằng cách ấn từ từ hai đầu thanh RAM xuống khe cắm tới khi 2 lẫy khớp vào 2 bên thanh RAM là được. Lưu ý RAM chỉ có một hướng cắm duy nhất nếu ngược sẽ không thể cắm được.

Nếu vẫn không được thì bạn có thể thử thay từng thanh RAM bằng một thanh khác mà bạn chắc chắn là vẫn hoạt động tốt để xem nguyên nhân có phải do RAM hay không.
 
4. Ổ Cứng

Nếu màn hình BIOS vẫn hiển thị khi khởi động nhưng chỉ dừng ở đó và không thể vào được Windows thì có thể vấn đề do ổ cứng. Khi máy vừa khởi động, nếu để ý kĩ sẽ nghe thấy tiếng lạch cạch nhỏ (tiếng đầu đọc di chuyển về vị trí cao nhất) hoặc bạn có thể sờ bằng tay xem ổ cứng có rung hay không, nếu không thì cần xem lại nguồn cấp cho HDD để đảm bảo ổ cứng vẫn hoạt động. Nếu ổ cứng vẫn quay nhưng vẫn không vào được Windows thì trường hợp này có thể do Virus gây ảnh hưởng đến file hệ thống của bạn, vấn đề về phần mềm xin không bàn đến trong bài này. Nếu như xem màn hình BIOS không thấy tên ổ cứng hiện lên nghĩa là ổ cứng đã hỏng và cần thay thế.
 





Tất nhiên những mẹo kiểm tra ổ cứng có hoạt động hay không chỉ áp dụng với ổ cứng cơ thông thường, không áp dụng với ổ SSD vì đơn giản là ổ SSD không có động cơ.

Qua các bước kiểm tra ở trên mà vẫn không tìm ra nguyên nhân lỗi thì rất có thể Main hoặc Chip của bạn có vấn đề. Khả năng Main bị lỗi thường cao hơn do CPU ít khi hỏng (trừ khi bạn ép xung thường xuyên) nên nếu có điều kiện bạn có thể thay CPU khác để thử. Tuy nhiên lời khuyên tốt nhất cho bạn nếu có ý định thay Mainboard là nên thay cả cây mới nếu dàn máy của bạn đã “có tuổi” vì linh kiện cũ dù sao cũng khó tương thích với Main mới vả lại giá thành cho đồ cũ tốc độ thấp cũng không kém gì đồ mới với tốc độ cao hơn rất nhiều.
 
Tham khảo: PC World

Thường người ta chi khá bộn cho các thành phần chính của máy tính như CPU, RAM, bo mạch chủ... Việc chi 150 USD cho card đồ hoạ thế hệ mới có vẻ hợp lý hơn đầu tư khoản tiền đó cho bộ nguồn. Tuy nhiên, những thử nghiệm cho thấy bộ nguồn đóng vai trò quan trọng đối với hiệu quả hoạt động của hệ thống.
Khi xây dựng hệ thống máy tính mới, người dùng thường không mấy khi chú ý tới một thành phần rất quan trọng - bộ nguồn. Thường người ta chi khá bộn cho các thành phần chính của máy tính như CPU, RAM, bo mạch chủ... Việc chi 150 USD cho card đồ họa thế hệ mới có vẻ hợp lý hơn đầu tư khoản tiền đó cho bộ nguồn (BN) hay Power Supply Unit (PSU). Tuy nhiên, những thử nghiệm cho thấy BN đóng vai trò quan trọng đối với hiệu quả hoạt động của hệ thống. Chip lõi kép, đồ họa kép cùng với những "món đồ chơi" ngốn điện khủng khiếp khác đang ngày càng dồn "áp lực" lên BN. Bài viết này giới thiệu các khái niệm cơ bản, những thông số quan trọng, cách thức để nhận biết một BN tốt và phù hợp với máy tính của bạn.
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN
Tất cả các loại BN khi xuất xưởng đều phải có tem chứng nhận chất lượng với đầy đủ thông số như điện thế, công suất...
1. Công suất

Công suất nguồn điện, giá trị được tính như sau: 

Watt (W) = Voltage (V) x Ampere (A); với V là hiệu điện thế Và A là cường độ dòng điện.
2. Các đường điện
Bộ nguồn thường có nhiều đường điện khác nhau, gồm: +3,3V, +5V, +12V, -5V, -12V. Ý nghĩa của chúng như sau:

-12V: Được sử dụng chính cho các mạch điện cổng Serial và hầu như rất ít được dùng trên các hệ thống mới. Mặc dù các BN mới đều có tính tương thích ngược nhưng công suất các đường -12V chỉ chưa tới 1A.

-5V: Chủ yếu sử dụng cho các bộ điều khiển ổ đĩa mềm và mạch cấp điện cho các khe cắm ISA cũ. Công suất đường -5V cũng chỉ dưới 1A. 
0V: Đây là đường "mát" (Ground) của các hệ thống máy tính cá nhân. 

+3,3V: Là một trong những mức điện thế mới trên các bộ nguồn hiện đại, xuất hiện lần đầu tiên khi chuẩn ATX ra đời và ban đầu được sử dụng chủ yếu cho bộ vi xử lý. Hiện nay, các bo mạch chủ (BMC) mới đều nắn dòng +3,3V để nuôi bộ nhớ chính. 

+5V: Nhiệm vụ chính là cấp điện cho BMC và những thành phần ngoại vi. Ngoài ra, các loại bộ vi xử lý như Pentium III hay AthlonXP cũng lấy điện từ đường 5V thông qua các bước nắn dòng. Trên những hệ thống mới, đa số các thành phần linh kiện đều dần chuyển qua sử dụng đường 3,3V ngoại trừ CPU và BMC.

+12V: Trong các hệ thống máy tính hiện đại, đây là đường điện đóng vai trò quan trọng nhất, ban đầu nó được sử dụng để cấp nguồn cho mô tơ của đĩa cứng cũng như quạt nguồn và một số thiết bị làm mát khác. Về sau, thiết kế mới cho phép các khe cắm hệ thống, card mở rộng và thậm chí là cả CPU cũng "ăn theo" dòng +12V. 

Khi công tắc nguồn được nhấn lần đầu tiên và BN khởi động, nó sẽ mất một khoảng thời gian để các thành phần trong nguồn xuất ra điện năng cho các thành phần máy tính hoạt động. Trước khi đó, nếu máy tính khởi động, các linh kiện sẽ dễ bị hỏng hóc hoặc hoạt động không bình thường do đường điện chưa ổn định. Chính vì vậy trên các hệ thống mới, đôi khi phải mất tới 1-2 giây sau khi bạn nhấn nút công tắc máy thì hệ thống mới bắt đầu làm việc. Điều này là do hệ thống phải chờ tín hiệu đèn xanh cho biết điện thế đã sẵn sàng từ BN gửi tới BMC. Nếu không có tín hiệu này, BMC sẽ không cho phép máy tính hoạt động.
Trong số các đường điện chính, những đường có giá trị dương (+) đóng vai trò quan trọng hơn và bạn phải luôn để mắt tới chúng. Mỗi đường sẽ có chỉ số Ampere (A) riêng và con số này càng cao càng tốt. Công suất tổng được tính bằng công thức W= VxA. Ví dụ đối với BN có đường 3,3V là 30A, 5V là 30A và 12V là 25A thì các đường điện và công suất được tính như sau:

+ Công suất đường điện 3.3V = 3.3V x 30A = 100W

+ Công suất đường điện 5V = 5V x 30A = 150W 

+ Công suất đường điện 12V = 12V x 25A = 300W

Như vậy tổng công suất nguồn sẽ là 100W + 150W + 300W = 550W. Tuy nhiên trên thực tế còn nhiều yếu tố khác ảnh hưởng tới con số tổng này và chúng ta sẽ đề cập tới ở phần sau bài viết.
3. Chuẩn của bộ nguồn

Chuẩn thống trị hiện nay trên máy tính để bàn nói chung chính là ATX (Advanced Technology Extended) 12V, được thiết kế bởi Intel vào năm 1995 và đã nhanh chóng thay thế chuẩn AT cũ bởi nhiều ưu điểm vượt trội. Nếu như với nguồn AT, việc kích hoạt chế độ bật được thực hiện qua công tắc có bốn điểm tiếp xúc điện thì với bộ nguồn ATX bạn có thể bật tắt bằng phần mềm hay chỉ cần nối mạch hai chân cắm kích nguồn (dây xanh lá cây và một trong các dây Ground đen). Các nguồn ATX chuẩn luôn có công tắc tổng để có thể ngắt hoàn toàn dòng điện ra khỏi máy tính. ATX có 5 nhánh thiết kế chính:
- ATX: jack chính 20 chân (thường dùng cho Pentium III hoặc Athlon XP).

- WTX: jack chính 24 chân, dùng cho Pentium II, III Xeon và Athlon MP.

- ATX 12V: jack chính 20 chân, jack phụ 4 chân 12v (Pentium 4 hoặc Athlon 64).

- EPS12V: jack chính 24 chân, jack phụ 8 chân dùng cho các hệ thống Xeon hoặc Opteron.

- ATX12V 2.0: jack chính 24 chân, jack phụ 4 chân (Pentium 4 775 và các hệ thống Athlon 64 PCI-Express)

Gần đây xuất hiện một chuẩn mới với tên gọi BTX (Balanced Technology Extended) có cách sắp xếp các thành phần bên trong máy hoàn toàn khác với ATX hiện nay, cho phép các nhà phát triển hệ thống có thêm tùy chọn nhằm giải quyết vấn đề nhiệt lượng, độ ồn... Chuẩn BTX được thiết kế tối ưu cho những công nghệ mới hiện nay như SATA, USB 2.0 và PCI Express. Yếu tố xử lý nhiệt độ trong máy tính BTX được cải tiến rất nhiều: hầu hết các thành phần tỏa nhiệt chính đều được đặt trong luồng gió chính nên sẽ tránh việc phải bổ sung các quạt riêng cho chúng (sẽ gây tốn thêm năng lượng, tăng độ ồn và chật chội không cần thiết). Hiện tại bạn có thể tìm thấy một vài bộ nguồn với tem chứng nhận hỗ trợ BTX nhưng không nhiều vì chưa thông dụng. 
4. Các loại chân cắm
Dây cắm của nguồn điện máy tính được đánh mã màu rất chi tiết, màu đỏ là điện +5v, màu vàng là +12v, màu đen là dây "mát" (Ground)... Chúng được tập hợp lại thành những dạng chân cắm cơ bản sau đây:

- Molex: Sử dụng cho các loại đĩa cứng và ổ đĩa quang, ngoài ra bạn cũng có thể sử dụng để cắm quạt và một số thiết bị khác như card đồ họa AGP (Geforce 5, 6 hoặc Radeon X800) hay BMC như của Asus hay DFI.

- Đầu cắm nguồn chính: Nguyên bản ATX ban đầu có 20 chân cắm, chuẩn mới 2.0 đã nâng số chân cắm chính lên 24 chân. Bạn cũng có thể tìm thấy một số BN có dạng chân 20+4 với chốt gắn cho phép sử dụng cả trên các BMC với đầu điện nguồn dạng 20 hay 24 chân.

- Dây điện phụ 12V: Xuất hiện cùng với hệ thống Pentium 4. Dây này gồm 4 đầu cắm với 2 chân 12V và 2 chân "mát".
- Đầu cắm SATA: Những BN mới nhất đều phải có tối thiểu từ 2 tới 4 chân cắm dẹt dành cho những đĩa cứng SATA hiện đại. Tuy nhiên bạn cũng có thể sử dụng các đoạn dây chuyển nếu như nguồn của mình không có loại chân này. 

- Đầu PCI-Express: Cũng tương tự như với chân cắm SATA, đầu cắm PCI-Express là thứ không thể thiếu trong các BN thế hệ mới. Những nguồn điện với chứng nhận SLI hoặc Crossfire cho các hệ thống đồ họa kép luôn có tới 2 đầu cắm dạng này để sử dụng với card đồ họa PCI-Express. Tất nhiên, nếu nguồn của bạn không có đầu cắm mà vẫn muốn sử dụng card đồ họa mới, bạn vẫn có thể sử dụng các jack chuyển đối (đôi khi được tặng kèm theo card). 

- Đầu cắm ổ đĩa mềm: Nguyên thủy, giắc cắm này được sử dụng cho ổ đĩa mềm, nó cũng gồm 2 dây ground, 1 dây +5V và 1 dây +12V. Về sau, có khá nhiều thiết bị khác cũng sử dụng kiểu đầu cắm này như các card đồ họa, đầu chuyển đổi ATA – SATA của đĩa cứng và thậm chí là cả BMC như DFI Lanparty NF4. 

- Đầu cắm EPS 12V 8 chân: Thường được sử dụng cho các BMC workstation trên những hệ thống máy tính chuyên nghiệp với CPU Opteron hay Xeon. Gần đây, một số BMC desktop mới cũng bắt đầu sử dụng đầu cắm này ví dụ như dòng P5WD2 của Asus.
Hiện nay, thiết kế tháo rời (Modular Concept) của bộ nguồn máy tính đang bắt đầu được sử dụng. Bạn hãy thử hình dung một bộ nguồn chuẩn ATX 2.01 sẽ có khoảng 8-10 đầu cắm Molex, 1 đầu cắm chính, một hoặc hai đầu cắm PCI-Express, 1 đầu 12V, 2 tới 4 đầu SATA và một số các đầu giao tiếp riêng đặc biệt khác. Tuy nhiên hệ thống máy tính của bạn nếu chỉ ở mức cơ bản và sử dụng chưa tới ½ số đầu cắm này thì chắc chắn việc sắp xếp gọn gàng những đầu cắm dư bên trong máy sẽ khá rắc rối. Modular Concept cho phép bạn chỉ cắm những dây với các đầu nối cần dùng và loại bỏ những chân không cần thiết. Nhờ vậy nội thất bên trong case của bạn sẽ gọn gàng và tạo điều kiện thuận lợi cho các giải pháp làm mát nói chung. Tuy nhiên kiểu thiết kế mới này hiện tại mới chỉ được áp dụng trên những BN cao cấp đắt tiền.

5. Các đường điện âm
Nếu sử dụng một số phần mềm đo điện hay thậm chí là đồng hồ đo, bạn sẽ thấy các giá trị của đường điện âm (-) khá thấp so với các đường dương (+). Điều này là do hiện nay chúng không còn quan trọng nữa. Mặc dù một bộ nguồn ATX 20 chân có chân số 12 là -12v và chân số 18 là -5v nhưng hầu như không bao giờ được dùng. Một số thiết bị cần tới điện thế âm bao gồm:

+ Các card mở rộng ISA.

+ Cổng serial hoặc LAN

+ Ổ đĩa mềm thế hệ cũ. 

6. Thời gian duy trì điện (Hold-up time)
Giá trị Holdup Time xác định khoảng thời gian tính bằng mili-giây mà một bộ nguồn có thể duy trì được các đường điện ra ở đúng định mức khi đường điện vào bị ngắt (ví dụ như mất điện). Điều này rất có ích đặc biệt khi bạn sống trong khu vực điện không ổn định (ví dụ trường hợp điện đột ngột chớp ngắt rồi có lại thì máy tính vẫn có thể hoạt động bình thường). Giá trị Hold-up time của chuẩn ATX là 17ms và bộ nguồn máy tính nên có chỉ số này càng cao càng tốt.
7. Power Factor Correction (PFC)
PFC cho phép việc cung cấp điện đạt hiệu quả sử dụng cao. Có hai loại PFC chính là Active PFC và Passive PFC. Tất cả các bộ nguồn được sản xuất vào hiện tại đều thuộc một trong hai loại này.

- Active PFC: Đây là kiểu hiệu quả nhất. Nó sử dụng mạch điện tự động điều chỉnh để hiệu suất sử dụng điện có thể đạt tới 95% (theo lý thuyết). Ngoài ra, Active PFC cũng có khả năng khử nhiễu và căn chỉnh đường điện vào (cho phép bạn cắm vào bất kì ổ cắm 110V cho tới 220V thông dụng nào mà không cần phải quan tâm tới các chỉ số). Tuy nhiên do kiến trúc phức tạp của Active PFC nên những bộ nguồn dùng công nghệ này đều có giá khá cao. Một số bộ nguồn Active PFC vẫn cho phép người dùng sử dụng công tắc chuyển xác định dòng điện đầu vào. 

- Passive PFC: Đây là kiểu thông dụng nhất hiện nay. Khác với Active PFC, Passive PFC căn chỉnh dòng điện thông qua các tụ lọc và chính vì thế khả năng làm việc của nó sẽ bị thay đổi theo thời gian cũng như chịu ảnh hưởng khá lớn từ các yếu tố bên ngoài như nhiệt độ, chấn động... Những bộ nguồn dùng công nghệ Passive PFC đều yêu cầu người dùng phải chỉnh lại điện thế đầu vào thông qua một công tắc nhỏ. Nguồn Passive PFC có giá rẻ hơn nguồn Active PFC.

Các loại nguồn không sử dụng PFC (Non PFC) hiện nay đều được khuyến cáo không nên dùng. Ở một số quốc gia EU, mọi bộ nguồn đưa ra thị trường đều được yêu cầu phải có trang bị hoặc Active PFC hoặc Passive PFC. PFC cho phép tiết kiệm điện sử dụng, giảm sức tải cho các đường dây điện trong nhà: điều này rất có lợi khi bạn thành lập phòng máy hoặc sử dụng nhiều máy cùng một nguồn điện. Bộ nguồn dạng Active PFC thường cho đường điện ra ổn định hơn so với Passive PFC, nhờ vậy thiết bị trong máy hoạt động ổn định và có tuổi thọ cao hơn.
8. Năng lượng cực đại và năng lượng liên tục
Mức năng lượng liên tục (Continuous Power) là chỉ khả năng cấp điện của nguồn trong khoảng thời gian dài liên tục còn năng lượng cực đại (Peak Power) lại chỉ mức tối đa trong khoảng thời gian ngắn. Ví dụ bạn cắm một loạt thiết bị với tổng công suất khoảng 430W vào bộ nguồn có chỉ số Continuous Power là 400W, chúng vẫn có thể hoạt động được trong khoảng thời gian ngắn nếu mức Peak Power của nguồn đạt trên 430W nhưng sau một khoảng thời gian nhất định, các linh kiện trong nguồn sẽ bị trục trặc. 
Chỉ số xác định độ ồn của một bộ nguồn được đo bằng đơn bị dB và nó phải phù hợp với độ ồn của môi trường làm việc. Lấy ví dụ, trong văn phòng ồn ào, bộ nguồn 30dB có thể không phải là vấn đề nhưng nếu trong phòng khách gia đình yên tĩnh, con số này sẽ gây khó chịu, đặc biệt là về đêm. Một quy tắc bất thành văn là bộ nguồn với quạt 120mm sẽ làm việc êm hơn so với bộ nguồn có quạt 80mm hay 90mm tốc độ cao mặc dù hiệu năng làm mát của chúng có thể tương đương nhau. Khi bộ nguồn làm việc nặng nhọc hơn (nuôi nhiều thiết bị) thì nhiệt lượng do nó tỏa ra cũng tăng cao và đối với những bộ nguồn có quạt tự điều chỉnh tốc độ, số vòng quay của quạt cũng tăng lên và khi đó những âm thanh ồn ào bắt đầu xuất hiện. Ví dụ khi một bộ nguồn làm việc ở mức 70%, tiếng ồn chỉ khoảng 20dB nhưng khi lên tới con số 90% thì âm lượng phát ra sẽ có thể lên tới 35dB hoặc hơn. Bạn nên xem xét kĩ vấn đề này: nếu cần nguồn 300W, bạn nên chọn loại 350W để công suất làm việc vừa đủ 85%, nếu chọn loại 400W thì con số này chỉ còn 75% và có thể độ ồn cũng giảm theo.

Một số bộ nguồn loại siêu êm có thể không sử dụng quạt hoặc chỉ dùng những loại quạt rất êm nhưng hầu hết chúng không dành cho những máy tính bình thường vì giá cực đắt, điển hình như XG Magnum 500 của MGE.

Nếu hay lượn lờ trên các website công nghệ, có thể bạn cũng sẽ bắt gặp một số bộ nguồn với giải pháp làm mát bằng nước nhưng loại này khá nguy hiểm đối với những người ít kinh nghiệm.
10. Chiết áp chỉnh điện thế (Adjustable Pot)
Một số bộ nguồn tốt có kèm theo các chiết áp nhỏ bên trong để chỉnh hiệu điện thế cho các đường điện. Trong thực tế, nếu đường điện 12V của bạn tụt xuống dưới 11,5V, nó sẽ gây ra mất ổn định cho toàn hệ thống. Hãy nhớ rằng chuẩn ATX cho phép điện thế mỗi đường dao động trong khoảng 5% và bạn có thể chỉnh lại lên 12V thông qua những chiết áp đó. Tuy nhiên đây là tính năng nâng cao và chỉ nên thực hiện nếu bạn biết mình đang làm điều gì. Một số sản phẩm nguồn chuyển hẳn các chiết áp này ra ngoài để người dùng tự thay đổi thoải mái ví dụ như series TrueControl của Antec. 

Giá trị giới hạn an toàn của các đường điện theo chuẩn ATX như sau:

11. Chế độ Soft Power và tín hiệu chờ 5V

Soft Power là cách thức mà bộ nguồn máy tính được bật lên hoặc tắt đi nhưng thay vì dùng công tắc cứng như chuẩn AT trước kia thì được kích hoạt khi BMC ra lệnh cho bộ nguồn. Cũng nhờ vào điều này mà người dùng có thể điều khiển năng lượng hệ thống qua phần mềm. Bạn có thể dễ dàng kiểm chứng điều này bằng khả năng tắt máy của hệ điều hành Windows hay bật máy lên từ bàn phím, chuột. Nguyên tắc chính để BMC ra lệnh cho bộ nguồn là thông qua tín hiệu chờ của đường +5V Standby. Đường điện này độc lập hoàn toàn với các đường nuôi thiết bị khác và sẽ có tín hiệu bất cứ khi nào bạn cắm điện vào nguồn, một số BMC mới thường có đèn tín hiệu để báo trạng thái +5V Standby. Ngoài ra trên hệ thống máy tính còn có một vài đường điện phụ khác, gồm:

+ Dòng cảm ứng +3.3V (+3.3V Sense): Chức năng chính là theo dõi điện thế của đường +3.3V nuôi BMC. Nhờ vậy, bộ nguồn có thể căn chỉnh dòng cho chính xác.

+ Điều khiển quạt (Fan Control): Tín hiệu điều khiển quạt cho phép hệ thống nói chung và BMC nói riêng thay đổi tốc độ quạt của bộ nguồn. Khi điện thế của dòng này tụt xuống dưới 1V, quạt sẽ tự động tắt. Khi đạt giá trị trên 10.5V, quạt sẽ hoạt động ở mức tối đa. Chức năng chính của thiết kế này là cho phép hệ thống tắt quạt khi máy tính chuyển sang trạng thái nghỉ (Sleep Mode) hoặc thay đổi tốc độ quạt theo nhiệt độ linh kiện. 

+ Theo dõi trạng thái quạt (Fan Monitor): Đây là bạn đồng hành của tính năng điều kiển quạt, nó cho phép theo dõi tốc độ quay của quạt trong hệ thống. Nhiệm vụ chính của nó là cảnh báo người dùng khi có một quạt làm mát nào đó gặp trục trặc và ngừng hoạt động.

Nguồn Sưu Tầm

Cách phổ biến nhất là khôi phục lại MBR (Master Boot Record) để sửa chữa lại toàn bộ quá trình khởi động. Sau đây, Quản Trị Mạng sẽ hướng dẫn các bạn những bước cơ bản theo đúng trình tự để khắc phục hệ thống mỗi khi bạn gặp phải hiện tượng này.
Boot từ đĩa cài đặt Windows
Cách đầu tiên bạn có thể thực hiện là khởi động hệ thống từ đĩa cài Windows, thực hiện theo các chỉ dẫn trên màn hình cho tới bước Repair your computer như hình bên dưới:
Chọn phân vùng hệ thống của Windows và nhấn nút Next:
Sau đó màn hình System Recovery Options sẽ hiển thị, tại đây các bạn chọn Command Prompt:
Sửa lại Master Boot Record

Trong trường hợp bạn muốn khôi phục lại master boot record, hãy gõ lệnh sau trong cửa sổ Command Prompt:

bootrec /fixmbr 

Hoặc “tạo” mới boot sector vào phân vùng hệ thống bằng lệnh sau đây (thường có tác dụng hơn so với lệnh trên):

bootrec /fixboot 

Để hiển thị tất cả các cú pháp, lựa chọn của lệnh bootrec, hãy thêm /? vào đằng sau:
Bạn cũng có thể áp dụng cách này để khắc phục lỗi “BOOTMGR is missing” khi Windows Vista hoặc 7 khởi động.
Thay thế Windows XP Bootloader với Windows 7

1 sai lầm thường gặp khi bạn muốn cài nhiều hệ điều hành (ở đây là cài Windows XP lên máy tính đã có sẵn Windows 7) thì sẽ không thể đăng nhập vào Windows 7 được nữa. Sử dụng lệnh sau đây để khắc phục lỗi đó:

bootsect /nt60 all 

Dựa vào phân vùng cài đặt bạn cần thay thế tên ổ đĩa chính xác (ví dụ c, d, e...) thay vì từ all:
Còn nếu muốn khôi phục lại menu của Windows XP, sử dụng lệnh sau:

bcdedit /create {ntldr} -d “Windows XP”
Áp dụng tính năng Startup Repair
Mỗi 1 chức năng đều được áp dụng trong những trường hợp nhất định, nếu không gặp phải vấn đề quá phức tạp thì hãy dùng lựa chọn Startup Repair:
Chương trình sẽ tiến hành kiểm tra và xác định nguyên nhân, trong trường hợp bất đắc dĩ, bạn hãy quay lại sử dụng Command Prompt như trên:
Trên đây là 1 cách đơn giản và cơ bản nhất khi hệ thống Windows gặp vấn đề trong khi khởi động, và chỉ cần chiếc đĩa cài đặt Windows có sẵn, người sử dụng đã có thể tự mình khắc phục được vấn đề mà không mất quá nhiều thời gian cũng như công sức. Chúc các bạn thành công!



Nguồn Sưu Tầm





Phần 1. Routing - Định Tuyến (Các giao thức phức tạp)
OSPF.

Note: Tất cả những router có cùng area phải cấu hình giống nhau tất cả các thông số thì khu vực đó mới hoạt động đúng chức năng được.

1. Cấu hình cơ bản

Router(config)#router ospf process ID
Router(config-router)#network Network_number Wildcard_mask area_ID

2. Cấu hình priority ở các interface để bầu DR và BDR

Priority càng lớn thì khả năng được bầu làm DR càng cao, ngược với bầu Root brige của Switch, càng nhỏ thì lại càng được bầu.

Router(config)#interface fastethernet 0/0
Router(config-int)#ip ospf priority 55

Sau khi cấu hình xong priority có thể kiểm tra bằng lệnh.

Router# show ip ospf interface f0/0

3. Chỉnh sửa lại OSPF cost metric trong mỗi interface

Cost càng nhỏ thì tuyến đó càng được coi là best path

Router(config-int)#ip ospf cost 1

4.Cấu hình OSPF Authentication ở các interface và áp dùng vào router

Authentication key được hiểu như là password để các router trong cùng một vùng chia sẻ với nhau.

a.Cấu hình authentication đơn giản

Router(config-if)#ip ospf authentication-key password
Router(config-router)#area area number authentication

b.Cấu hình authentication theo dạng mã hoá, bảo mật cao.

Router(config-if)ip ospf message-digest-key key ID md5 encryption-type key
Router(config-router)#area area ID authentication message-digest

5.Cấu hình OSPF timer trong các interface

Router(config-if)ip ospf hello-interval timer
Router(config-if)ip ospf dead-interval timer

6.Cấu hình quảng bá một tuyến mặc định trong OSPF

Router(config-router)#default-information originate

7.Quảng bà một tuyến khác (không phải là default)

Router(config-router)#redistribute protocols subnets

8.Các lệnh show dùng để kiểm tra cấu hình OSPF

show ip protocol
show ip route
show ip ospf
show ip ospf interface
show ip ospf database
show ip ospf neighbor detail
clear ip route *
debug ip ospf events
debug ip ospf adj

EIGRP

1.Cấu hình cơ bản.

Router(config)#router eigrp autonomous number
Router(config-router)#network network number
Router(config-router)#eigpr log-neighbor-changes (Không có cũng được)
Router(config-router)#no auto-summary

2.Thay đổi băng thông và tự tổng hợp tuyến trong interface

Router(config-if)#bandwidth kilobits
Router(config-if)#ip summary-address protocol AS network number subnets mask

3.Cân bằng tải trong EIGRP

Router(config-router)#variance number

4.Quảng bá default route

Cách 1:
Router(config)#ip route 0.0.0.0 0.0.0.0 [interface/nexthop]
Router(config)#redistribute static

Cách 2:
Router(config)#ip default-network network number

Cách 3:
Router(config-if)#ip summary-network eigrp AS number 0.0.0.0 0.0.0.0

5.Quảng bá các tuyến khác trong EIGRP (không phải là default)

Router(config-router)#redistribute protocol process ID metrics k1 k2 k3 k4 k5
Ex: Router(config-router)#redistribute ospf metrics 100 100 100 100 100

6.Chia sẻ traffic trong EIGRP

Router(config-router)#traffic share {balanced/min}

7.Các lệnh kiểm tra cấu hình EIGRP

<!--[if !supLists]-->- <!--[endif]-->show ip eigrp neighbor
<!--[if !supLists]-->- <!--[endif]-->show ip eigrp interface
<!--[if !supLists]-->- <!--[endif]-->show ip eigrp topology
<!--[if !supLists]-->- <!--[endif]-->show ip eigrp traffic
<!--[if !supLists]-->- <!--[endif]-->debug eigrp fsm
<!--[if !supLists]-->- <!--[endif]-->debug eigrp packet

Phần 2. Switching - Chuyển mạch

1.Cấu hình cơ bản chung cho một Switch

Reset tất cả cấu hình của Switch và reload lại.

Switch#delete flash:vlan.dat
Switch#erase startup-config
Switch#reload

2.Cấu hình về Security và management

Switch(config)#hostname tên switch
Switch(config)#line console 0
Switch(config-line)#password mật khẩu
Switch(config-line)#login

Switch(config)#line vty 0 4
Switch(config-line)#pass mật khẩu
Switch(config-line)#login

3.Thiết lập địa chỉ IP và default gateway cho Switch

Switch(config)#interface vlan1
Switch(config-int)#ip address địa chỉ subnetmask
Switch(config)#ip default-gateway địa chỉ

4.Thiết lập tốc độ và duplex của cổng

Switch(config-int)#speed tốc độ
Switch(config-int)#duplex full

5.Thiết lập dịch vụ HTTP và cổng

Switch(config)#ip http server
Switch(config)#ip http port 80

6.Thiết lập, quản lý địa chỉ MAC

Switch(config)#mac-address-table static địa chỉ MAC interface fastethernet số vlan
Switch#show mac-address-table
Switch#clear mac-address-table

7.Cấu hình bảo mật cho cổng

Switch(config-if)#switchport mode acess
Switch(config-if)#switchport port-security

Cấu hình Static: Switch(config-if)#switchport port-security mac-address địa chỉ Mac

Cấu hình Sticky: Switch(config-if)#switchport port-security mac-address sticky (thông dụng nhất)

Switch(config-if)#switchport port-security maximum value
Switch(config-if)#switchport port-security violation shutdown

8.Tạo Vlan

Cách 1.

Switch#vlan database
Switch(vlan)#vlan number

Cách 2. Khi gán các cổng vào vlan, dù vlan chưa tồn tại nhưng Switch vẫn tự tạo.

Switch(config)#interface fastethernet 0/0
Switch(config-int)#switchport access vlan vlan-id

Muốn xoá vlan ta làm như sau:

Switch(config-if)#no switchport access vlan vlan-id
Switch#clear vlan vlan_number (xoá toàn bộ vlan )

9.Gán nhiều cổng vào trong vlan cùng một lúc, cấu hình Range

Đối với dãy cổng không liên tục.
Switch(config)#interface range cổng 1 , cổng 2 , cổng 3

Đối với một dãy liên tục.
Switch(config)#interface range cổng 1-n
Switch(config-range)#switchport access vlan vlan-id


Ví dụ:
Switch(config)#interface range f0/0 , f0/2 , f0/4
Switch(config)#interface range f0/0-10
Switch(config-range)#switchport access vlan 10

10.Cấu hình Trunk

Switch(config-if)#switchport mode trunk
Switch(config-if)#switchpor trunk encapsulation encapsulation-type
Switch#show trunk

11.Cấu hình VTP

Switch#vlan database
Switch(vlan)#vtp v2-mode
Switch(vlan)#vtp domain tên domain
Switch(vlan)#vtp {server/client/transperant}
Switch(vlan)#vtp password password (Tạo pass cho domain)
Switch#show vtp status

12.Cấu hình Inter-Vlan trên Router

Router(config)#interface fastethernet 0/0.1
Router(config-subif)#encapsulation type
Router(config-subif)#ip address địa chỉ subnetmask

Phần 3. Access-list và các cấu hình liên quan.

1.Nhắc lại về lý thuyết.

Có 2 loại access-list.

<!--[if !supLists]-->- <!--[endif]-->Loại thứ nhất: Standard IP Access-list chỉ lọc dữ liệu dựa vào địa chỉ IP nguồn. Range của loại này là từ 1à 99. Nên được áp dụng với cổng gần đích nhất.

<!--[if !supLists]-->- <!--[endif]-->Loại thứ hai: Extended IP Access-list lọc dữ liệu dựa vào
<!--[if !supLists]-->o <!--[endif]-->Địa chỉ IP nguồn
<!--[if !supLists]-->o <!--[endif]-->Địa chỉ IP đích
<!--[if !supLists]-->o <!--[endif]-->Giao thức (TCP, UDP)
<!--[if !supLists]-->o <!--[endif]-->Số cổng (HTTP, Telnet…)
<!--[if !supLists]-->o <!--[endif]-->Và các thông số khác như Windcard mask
Range của loại này là từ 100 à199. Nên được áp dụng với cổng gần nguồn nhất.

Hai bước để cấu hình Access-list
<!--[if !supLists]-->- <!--[endif]-->Bước 1: Tạo access-list trong chế độ cấu hình config.
<!--[if !supLists]-->- <!--[endif]-->Bước 2: Áp dụng access-list cho từng cổng tuỳ theo yêu cầu ở chế độ cấu hình (config-if)

Lưu ý:
<!--[if !supLists]-->- <!--[endif]-->Mặc định của tất cả Access-list là deny all, vì vậy trong tất cả các access-list tối thiểu phải có 1 lệnh permit. Nếu trong access-list có cả permit và deny thì nên để các dòng lệnh permit bên trên.
<!--[if !supLists]-->- <!--[endif]-->Về hướng của access-list (In/Out) khi áp dụng vào cổng có thể hiểu đơn giản là: In là từ host, Out là tới host hay In vào trong Router, còn Out là ra khỏi Router.
<!--[if !supLists]-->- <!--[endif]-->Đối với IN router kiểm tra gói tin trước khi nó được đưa tới bảng xử lý. Đối vơi OUT, router kiểm tra gói tin sau khi nó vào bảng xử lý.
<!--[if !supLists]-->- <!--[endif]-->Windcard mask được tính bằng công thức:
WM = 255.255.255.255 – Subnet mask (Áp dụng cho cả Classful và Classless addreess)
<!--[if !supLists]-->- <!--[endif]-->0.0.0.0 255.255.255.255 = any.
<!--[if !supLists]-->- <!--[endif]-->Ip address 0.0.0.0 = host ip address (chỉ định từng host một )

2.Cấu hình Standard Access-list (Ví dụ)

Router(config)#access-list 1 deny 172.16.0.0 0.0.255.255
Router(config)#access-list 1 permit any
Router(config)#interface fastethernet 0/0
Router(config-in)#ip access-group in

3.Cấu hình Extended Access-list (Ví dụ)

Router(config)#access-list 101 deny tcp 172.16.0.0 0.0.255.255 host 192.168.1.1 eq telnet
Router(config)#access-list 101 deny tcp 172.16.0.0 0.0.255.255 host 192.168.1.2 eq ftp
Router(config)#access-list 101 permit any any
Router(config)#interface fastethernet 0/0
Router(config-int)#ip access-group out

4.Cấu hình named ACL thay cho các số hiệu.

Router(config)#ip access-list extended server-access (tên của access-list)
Router(config-ext-nacl)#permit tcp any host 192.168.1.3 eq telnet
Router(config)#interface fastethernet 0/0
Router(config-int)#ip access-group server-access out

5.Permit hoặc Deny Telnet sử dụng Standard Acl (Ví dụ)

Router(config)#access-list 2 permit 172.16.0.0 0.0.255.255
Router(config)#access-list 2 deny any
Router(config)#line vty 0 4
Router(config-line)#password cisco
Router(config-line)#login
Router(config-line)#ip access-class 2 in

6.Xoá và kiểm tra Access-list

Muốn xoá thì ta dùng lệnh sau:
Router(config)# no ip access-list số hiệu

Kiểm tra Acl ta dùng các lệnh sau:

<!--[if !supLists]-->- <!--[endif]-->show access-list
<!--[if !supLists]-->- <!--[endif]-->show running-config
<!--[if !supLists]-->- <!--[endif]-->show ip interface

Phần 4. NAT – PPP – Frame Relay

I.Cấu hình NAT

* Cấu hình Static NAT

Cấu hình NAT trong chế độ Router(config). Các lệnh như sau

Router(config)#ip nat inside source static [inside local address] [inside global address]
Ví dụ:
R(config)#ip nat inside source statice 10.0.0.1 202.103.2.1 (Địa chỉ 10.10.0.1 sẽ được chuyển thành 202.103.2.1 khi đi ra khỏi Router)

Sau khi cấu hình xong phải áp dụng vào cổng in và cổng out, trong ví dụ dưới đây, cổng Ethernet là công in, còn cổng Serial là cổng out

Router(config)#interface ethernet 0
Router(config-if)#ip nat inside

Router(config)#interface serial 0
Router(config-if)#ip nat outside

* Cấu hình Dynamic NAT

Router(config)#ip nat pool [ tên pool] [A.B.C.D A1.B1.C1.D1] netmask [mặt nạ]
Router(config)#ip nat inside source list [số hiệu ACL] pool [tên pool]
Router(config)#access-list [số hiệu ACL] permit A.B.C.D windcard masks

Ví dụ:
R(config)#ip nat pool nat-pool1 179.9.8.80 179.9.8.95 netmask 255.255.255.0
R(config)#ip nat inside source list 1 pool nat-pool1
R(config)#access-list 1 permit 10.1.0.0 0.0.0.255

Sau đó áp vào cổng In và Out như Static NAT

Note: Giải địa chỉ inside local address và inside global address phải nằm trong giải cho phép của ACL

* Cấu hình PAT overload

*
o Cấu hình overload với 1 địa chỉ IP cụ thể.

Router(config)#ip nat pool [tên pool] [ip global inside] [subnet mask]
Router(config)#ip nat inside source list [tên số hiệu ACL] pool [tên pool] overload
Router(config)#access-list [số hiệu] permit [địa chỉ] [windcard mask]

Ví dụ:
R(config)#access-list 2 permit 10.0.0.0 0.0.0.255
R(config)#ip nat pool nat-pool2 179.9.8.20 255.255.255.240
R(config)#ip nat inside source list 2 nat-pool2 overload

*
o Cấu hình overload dùng địa chỉ của cổng ra.(Thường xuyên được dung hơn là trường hợp trên)

Router(config)#ip nat inside source list [tên số hiệu ACL] interface [cổng ra] overload
Router(config)#access-list [số hiệu] permit [địa chỉ] [windcard mask]

Ví dụ:
R(config)#ip nat inside source list 3 interface serial 0 overload
R(config)#access-list 3 permit 10.0.0.0 0.0.0.255

* Các lệnh Clear NAT/PAT

Lệnh xóa tất cả dynamic nat trên toàn bộ các interface.
Router#clear ip nat translation *

Lệnh xóa các single nat trên từng interface
Router#clear ip nat translation [inside/outside] [global ip - local ip]

Lệnh xóa các extended nat trên từng interface
Router#clear ip nat translation protocol [inside/outside] [global ip - global port – local ip – local port]

* Kiểm tra và Debug các NAT và PAT

Router#show ip nat translation
Router#show ip nat statics
Router#debug ip nat

* Cấu hình DHCP

Router(config)#ip dhcp excluded-address ip-address (end-ip-address)
Router(config)#ip dhcp pool [tên pool]
Router(dhcp-config)#network addess subnetmask
Router(dhcp-config)#default-router address
Router(dhcp-config)#dns-server address
Router(dhcp-config)#netbios-name-server address
Router(dhcp-config)#domain-name tên domain
Router(dhcp-config)#lease ngày/giờ/phút

* Kiểm tra và troubleshoot cấu hình DHCP

Router#show ip dhcp binding
Router#debug ip dhcp server events

* Trong trường hợp DHCP server không nằm cùng mạng với host

Note: khi DHCP server không cùng mạng với host thì ta phải dùng lệnh ip helper-address giúp host đến DHCP server.

Router(config)#interface [cổng nằm cùng mạng với host]
Router(config-if)#ip helper-address [địa chỉ của DHCP server]

Note: Trong trường hợp muốn gói tin của host được broadcast ở mạng chứa DHCP thì ta dùng thêm lệnh ip directed-broadcast ở cổng cùng mạng với DHCP server

Router(config)#interface [cổng nằm cùng mạng với dhcp]
Router(config-ì)#ip directed-broadcast

II. Cấu hình PPP

1. Cấu hình cơ bản:

R(config)#interface serial 0/0
R(config-if)#encapsulation ppp

2. Cấu hình PAP

Cấu hình PAP không yêu cầu hai Router giống nhau về password nhưng CHAP thì phải có.

(Cấu hình trên RA)
R(config)#host RA
RA(config)#username RB password 321
RA(config-if)#encapsulation ppp
RA(config-if)#ppp authentication pap
RA(config-if)#ppp pap sent-username RA password 123

(Cấu hình trên RB)
R(config)#host RB
RB(config)#username RA password 123
RB(config-if)#encapsulation ppp
RB(config-if)#ppp authentication pap
RB(config-if)#ppp pap sent-username RB password 321

3. Cấu hình CHAP. (yêu cầu phải giống nhau về password)

(Cấu hình trên RA)
R(config)#host RA
RA(config)#username RB password 123
RA(config-if)encapsulation ppp
RA(config-if)ppp authentication chap

(Cấu hình trên RB)

R(config)#host RB
RB(config)#username RA password 123
RB(config-if)encapsulation ppp
RB(config-if)ppp authentication chap


4. Các cấu hình khác của PPP

<!--[if !supLists]-->a. <!--[endif]-->Cấu hình Multilink

R(config-if)#encapsulation ppp
R(config-if)#ppp multilink

<!--[if !supLists]-->b. <!--[endif]-->Cấu hình Compression

R(config-if)#encapsulation ppp
R(config-if)#compress [predictor/stac/mppc]

<!--[if !supLists]-->c. <!--[endif]-->Cấu hình Error detection

R(config-if)#encapsulation ppp
R(config-if)#ppp quality [phần trăm]

5. Các lệnh kiểm tra cấu hình PPP

R#show interface (xem encapsulation)
R#debug ppp negotiation (Xem quá trình kết nối giữa 2 node)
R#debug ppp authentication (Xem quá trình xác thực giữa 2 node)


III. Cấu hình Frame-Relay

<!--[if !supLists]-->1. <!--[endif]-->Cấu hình đơn giản

R(config-if)#encapsulation frame-relay {ciso| ietf} (mặc định là cisco)

Khi lệnh này được thực thi, DLCI sẽ được Inverse ARP tự động map, người dùng không cần phải làm gì cả.

* Nhưng Inverse ARP không làm việc với các kết nối Hub-and-Spoke

<!--[if !supLists]-->2. <!--[endif]-->Cấu hình Frame-relay static map

R(config-if)#encapsulation frame-relay
R(config-if)#frame-relay map ip remote–ip-address local-dlci [broadcast] [cisco| ietf]
(ip address trong dòng lệnh trên chỉ lấy làm minh họa bởi nó rất phổ biến, chính xác phải là remote–protocol–address)
Broadcast trong câu lệnh trên có 2 chức năng:
<!--[if !supLists]-->§ <!--[endif]-->Forward broadcast khi multicast không được khởi động.
<!--[if !supLists]-->§ <!--[endif]-->Đơn giản hóa cấu hình OSPF cho mạng nonbroadcast sử dụng FRelay.
Ví dụ:

R(config-if)#encapsulation frame-relay
R(config-if)#frame-relay map ip 192.168.2.1 100 broadcast


<!--[if !supLists]-->3. <!--[endif]-->Cấu hình FR trong mạng None Broadcast MutiAccess

<!--[if !supLists]-->- <!--[endif]-->Trong mạng Broadcast khi 1 máy tính truyền frame tất cả các node lắng nghe frame nhưng chỉ có node cần nhận mới nhận được.
<!--[if !supLists]-->- <!--[endif]-->Trong mạng None Broadcast khi 1 máy tính truyền frame thì chỉ có node cần nhận mới lắng nghe và nhận được frame đó, các node còn lại thì không. Frame được truyền qua 1 virtual Circuit hoặc 1 thiết bị chuyển mạch.
<!--[if !supLists]-->- <!--[endif]-->Star topology có thể được coi như là 1 mạng Hub and Spoke.

<!--[if !supLists]-->4. <!--[endif]-->Giải quyết vấn đề với Routing Updates mà không disable Split Horizal

Giải pháp dùng Sub-interface

R(config)#interface s0/0
R(config-if)#encapsulation frame-relay
R(config-if)interface s0/0.1 [multipoint| point-to-point]

<!--[if !supLists]-->- <!--[endif]-->point-to-point: Mỗi subinterface có subnet riêng của mình. Broadcast và Split horizol không là vấn đề.
<!--[if !supLists]-->- <!--[endif]-->Multi-point: Tất cả các subinterface liên quan phải cùng chung 1 subnet và như vậy Broadcast và Split horizol sẽ có vấn đề.

Ví dụ:
(Point-to-point)
R(config)#interface s0/0
R(config-if)#encapsulation frame-relay
R(config-if)#interface s0/0.1 point-to-point
R(config-subif)#frame-relay interface-dlci 18

(Multipoint)
R(config)#interface s0/0
R(config-if)#encapsulation frame-relay
R(config-if)#interface s0/0.2 multipoint
R(config-subif)#frame-relay interface-dlci 19
R(config-subif)#frame-relay interface-dlci 20

<!--[if !supLists]-->5. <!--[endif]-->Cấu hình trên Frame-relay Switching (ví dụ)

R(config)#frame-relay switching
R(config)#interface s0/0
R(config-if)#encapsulation frame-relay
R(config-if)#frame-relay intf-type dce
R(config-if)#frame-relay route 103interface serial 0/1 301

MKRdezign

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.
Javascript DisablePlease Enable Javascript To See All Widget